Các bộ sử kể cùng một chuyện khác nhau vì người soạn mỗi bộ sống ở một thời khác, có trong tay những nguồn khác, và mang một hệ giá trị khác. Chỗ khác nhau ấy không làm lịch sử kém tin cậy đi; nó chỉ nhắc rằng sử nào cũng do người viết, và muốn hiểu sử thì phải hiểu cả người viết.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Nhiều bạn kể với mình cảm giác hoang mang khi đọc hai cuốn sách nói về cùng một nhân vật mà đánh giá gần như ngược nhau. Tập này mình lấy chính lịch sử viết sử của nước mình làm ví dụ, để thấy chỗ khác nhau ấy sinh ra từ đâu.
Mỗi bộ sử bắt đầu ở một điểm khác nhau
Bộ quốc sử đầu tiên mà sử sách còn nhắc tới là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, hoàn thành năm một nghìn hai trăm bảy mươi hai dưới thời Trần. Bộ sách gốc không còn, nhưng nhiều lời bàn của ông được các bộ sử sau chép lại, nên mình vẫn biết khá rõ cách ông nghĩ.
Hơn hai trăm năm sau, dưới thời Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, hoàn thành năm một nghìn bốn trăm bảy mươi chín. Một thay đổi lớn là ông đặt phần mở đầu lịch sử lùi xa hơn, từ thời Hồng Bàng với Kinh Dương Vương và các vua Hùng, những câu chuyện mà trước đó chủ yếu sống trong truyền thuyết.
Chỉ riêng việc chọn điểm bắt đầu đã là một quyết định lớn. Nó trả lời câu hỏi: lịch sử của chúng ta khởi đầu từ đâu, và ai được tính là tổ tiên.
Người làm sử ngày nay không vội phán ai đúng ai sai trong chuyện này. Họ hỏi vì sao vào thời điểm đó, người soạn lại thấy cần kể như vậy.
Những lời bàn nói về người viết nhiều hơn về sự kiện
Các bộ sử xưa thường có hai lớp. Lớp thứ nhất kể sự việc theo năm tháng. Lớp thứ hai là lời bàn của người soạn, bày tỏ khen chê theo đạo lý Nho giáo.
Lời bàn là kho báu cho người đọc hôm nay, nhưng theo một cách hơi bất ngờ. Nó ít giúp mình biết sự việc thật diễn ra thế nào, mà giúp mình biết một nhà nho thế kỷ mười ba hay mười lăm coi điều gì là đúng mực, điều gì là đáng trách.
Ví dụ, các sử thần hay phê phán vua chúa khi họ sùng Phật quá mức hay khi lễ nghi triều đình không theo đúng phép tắc Nho gia. Đó là tiêu chuẩn của một thời, không nhất thiết là tiêu chuẩn của người đương thời với sự kiện.
Khi đọc một lời phê gay gắt trong sử cũ, hãy nhớ rằng mình đang nghe hai giọng: giọng của sự kiện và giọng của người phán xét sự kiện, cách nhau có khi hàng trăm năm.
Một bộ sử cũng thay đổi qua các lần in
Ít người biết rằng Đại Việt sử ký toàn thư mình đọc ngày nay không phải nguyên bản năm một nghìn bốn trăm bảy mươi chín. Bộ sách được các sử thần đời sau bổ sung, viết tiếp phần các triều về sau, và bản khắc in đầy đủ còn lại quan trọng nhất là bản khắc năm Chính Hoà, tức năm một nghìn sáu trăm chín mươi bảy.
Như vậy, cái tên Toàn thư thật ra chứa bên trong nó công sức của nhiều thế hệ người soạn, mỗi người sống ở một thời, chịu một áp lực chính trị khác nhau.
Chuyện này không riêng gì Việt Nam. Hầu hết các bộ sử lớn của thế giới thời trước in ấn công nghiệp đều trải qua nhiều lần chép, sửa, bổ sung.
Với người đọc, bài học là khi trích sử cũ, nên để ý bản nào, ai dịch, và đoạn đó thuộc phần do ai soạn. Chi tiết ấy nghe vụn vặt, nhưng nó có thể đổi hẳn cách hiểu một câu.
Khi quan niệm thay đổi, cách kể cũng thay đổi
Có những nhân vật mà các thế hệ sử gia nhìn rất khác nhau. Một ví dụ hay được giới nghiên cứu nhắc là Triệu Đà. Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên đều đặt nhà Triệu vào dòng lịch sử nước mình, trong khi một số nhà nho và sử gia đời sau lại phản đối cách xếp đặt đó.
Mình không kể chuyện này để phân xử, mà để thấy rằng câu hỏi ai thuộc về lịch sử của chúng ta không có sẵn một đáp án từ trên trời. Mỗi thời trả lời theo hiểu biết và mối bận tâm của thời mình.
Tương tự, cách nhìn về phụ nữ, về các cuộc nổi dậy của nông dân, về các tôn giáo, đều thay đổi rất nhiều qua các bộ sử. Có những nhân vật bị chê suốt mấy thế kỷ rồi được đánh giá lại khi có thêm tài liệu và góc nhìn mới.
Điều quan trọng là phân biệt đánh giá lại dựa trên bằng chứng với việc sửa sử theo ý muốn. Cái trước là sức sống của môn sử, cái sau là sự phản bội nó.
Đọc hai bộ sử khác nhau thì làm gì?
Khi gặp hai nguồn kể khác nhau, phản xạ đầu tiên của nhiều người là chọn một bên để tin. Người làm sử làm ngược lại: họ đặt hai bên cạnh nhau và hỏi mỗi bên dựa vào đâu.
Nếu một bên có nguồn gần sự kiện hơn, bên ấy thường nặng ký hơn về mặt sự việc. Nếu hai bên cùng dựa vào một nguồn nhưng diễn giải khác, thì chỗ khác nằm ở giá trị của người viết chứ không ở sự việc.
Thường thì mình sẽ rút ra được một phần chung mà cả hai cùng thừa nhận, và phần còn lại cứ để ở trạng thái còn tranh luận. Chấp nhận có phần chưa ngã ngũ là một dấu hiệu trưởng thành khi đọc sử.
Và biết đâu, lần sau gặp hai cuốn sách nói ngược nhau, thay vì bực bội, bạn sẽ thấy thích thú, vì đó chính là chỗ lịch sử đang sống.
Câu hỏi thường gặp
Lê Văn Hưu soạn bộ sử gì?
Lê Văn Hưu soạn Đại Việt sử ký, hoàn thành năm một nghìn hai trăm bảy mươi hai dưới thời Trần, là bộ quốc sử sớm nhất mà sử sách nhắc tới. Nguyên bản đã mất, nhưng nhiều lời bàn của ông được chép lại trong các bộ sử đời sau.
Đại Việt sử ký toàn thư do một người viết phải không?
Không. Ngô Sĩ Liên soạn phần nền tảng vào năm một nghìn bốn trăm bảy mươi chín, sau đó nhiều sử thần đời sau bổ sung và viết tiếp. Bản khắc in năm Chính Hoà là bản đầy đủ quan trọng nhất còn lại.
Vì sao các sử gia đánh giá một nhân vật khác nhau?
Vì họ dùng những nguồn khác nhau, sống ở thời khác nhau và theo những hệ giá trị khác nhau. Một hành động được coi là đúng mực ở thời này có thể bị chê ở thời khác.
Làm sao biết đánh giá lại lịch sử là chính đáng?
Đánh giá lại chính đáng khi nó dựa trên bằng chứng mới hoặc đọc lại bằng chứng cũ một cách minh bạch, cho người khác kiểm tra được. Nếu chỉ dựa trên mong muốn mà không đưa ra nguồn, đó là điều đáng ngờ.
Người đọc phổ thông nên đọc bộ sử cổ nào trước?
Có thể bắt đầu với bản dịch có chú thích của Đại Việt sử ký toàn thư, đọc từng giai đoạn mình quan tâm. Nên đọc kèm một cuốn sách giới thiệu của nhà nghiên cứu để hiểu bối cảnh và các tranh luận.