Văn bia kể những chuyện rất gần đời sống làng mà sách sử triều đình hầu như không ghi: ai góp tiền dựng lại ngôi chùa, ai gửi ruộng cho làng để được thờ sau khi mất, làng đặt ra lệ gì, năm nào đói kém phải bán ruộng chung. Mỗi tấm bia là một mảnh lịch sử của đúng nơi nó đứng.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Nếu bạn từng đi qua sân một ngôi đình hay ngôi chùa cổ ở đồng bằng Bắc Bộ, rất có thể bạn đã đi ngang một tấm bia đá mà không để ý. Tập này mình kể những tấm bia ấy nói gì, người làm sử đọc chúng ra sao, và vì sao có những nhóm sinh viên vẫn cặm cụi mang giấy mực đi dập bia khắp các làng.
Có những loại văn bia nào?
Văn bia ở Việt Nam rất đa dạng. Quen thuộc nhất với du khách là bia tiến sĩ ở Văn Miếu, ghi tên những người đỗ đạt. Nhưng số lượng lớn hơn nhiều lại nằm ở làng: bia ở đình, ở chùa, ở đền, ở nhà thờ họ, ở cầu, ở chợ.
Bia công đức ghi việc xây dựng hoặc tu sửa một công trình, kèm danh sách người góp tiền, góp ruộng. Bia hậu ghi việc một người gửi tiền hoặc ruộng cho làng, cho chùa, để sau khi mất được làng hoặc chùa cúng giỗ. Có bia ghi hương ước, lệ làng, có bia ghi việc giải quyết một vụ tranh chấp ranh giới.
Bia mộ thì ghi về người đã khuất, thường có tên tuổi, quê quán, đôi khi cả tiểu sử ngắn.
Mỗi loại trả lời một kiểu câu hỏi khác nhau. Muốn biết làng có bao nhiêu gia đình khá giả, xem danh sách công đức. Muốn biết làng lo việc thờ cúng lâu dài ra sao, xem bia hậu.
Bia hậu: một cửa sổ nhìn vào đời sống phụ nữ
Một điều nhiều nhà nghiên cứu để ý là trong bia hậu, tên phụ nữ xuất hiện khá nhiều. Có những bà góa, những người không có con trai nối dõi, đã dùng ruộng tiền của mình gửi cho làng hoặc chùa để được hương khói về sau.
Điều đó cho thấy một hình ảnh khác với ấn tượng phổ biến rằng phụ nữ xưa hoàn toàn không có tài sản riêng. Ít nhất ở một số vùng, một số thời, có phụ nữ đứng tên ruộng, tự quyết định việc gửi hậu, và được khắc tên trang trọng lên đá.
Tất nhiên không nên suy ra quá xa. Bia hậu chỉ ghi những người có của để gửi, nên nó nói về một nhóm nhỏ. Nhưng nó là một trong số ít nguồn cho phép nghe được tên và hành động cụ thể của phụ nữ nông thôn xưa.
Chính những chi tiết như vậy làm văn bia trở thành nguồn không thay thế được cho lịch sử xã hội.
Đọc một tấm bia: nhìn từ trán bia tới chân bia
Một tấm bia đá truyền thống thường có ba phần. Phía trên là trán bia, hay chạm hoa văn và khắc tên bia bằng chữ lớn. Phần giữa là thân bia, nơi khắc văn bia. Phía dưới là đế, nhiều bia đặt trên lưng rùa đá.
Hoa văn trên trán bia, diềm bia, kiểu rùa đội bia đều thay đổi theo thời. Người có kinh nghiệm nhìn hoa văn là đoán được bia thuộc khoảng thời nào, trước cả khi đọc chữ. Rồi đọc tới dòng ghi niên hiệu ở cuối văn bia để xác nhận.
Văn bia thường mở đầu bằng một đoạn ca ngợi địa thế, lịch sử của làng hay của công trình, sau đó mới vào việc chính, cuối cùng là danh sách người góp công và ngày tháng dựng bia. Nhiều người soạn văn bia là nho sĩ có tiếng trong vùng, nên có tấm bia là một áng văn đáng đọc.
Một mẹo nhỏ: mặt sau và hai cạnh bia thường cũng có chữ. Nhiều danh sách công đức dài được khắc kín cả bốn mặt.
Vì sao phải dập bia và dập như thế nào?
Đá bền nhưng không bất tử. Mưa nắng bào mòn chữ, rêu phong phủ kín, có tấm bị dùng làm bậc thềm, làm cầu ao, bị vỡ hoặc bị chôn lấp. Dập bia là cách lưu lại chữ trên giấy trước khi đá mất đi.
Cách làm truyền thống khá giản dị. Người ta làm sạch mặt bia, phủ lên một tờ giấy mỏng dai, làm ẩm cho giấy ôm sát vào mặt đá, rồi dùng búi vải có mực vỗ nhẹ đều tay. Chỗ chữ khắc lõm sẽ để lại màu trắng trên nền mực đen. Tờ giấy ấy gọi là thác bản.
Việc dập bia cần kỹ thuật và sự tôn trọng di tích. Không được cạo rêu bằng vật sắc, không được dùng hoá chất tuỳ tiện lên mặt đá. Nhiều nơi cần xin phép ban quản lý di tích trước.
Ở Việt Nam, một kho thác bản văn bia rất lớn được làm từ đầu thế kỷ hai mươi và hiện được lưu giữ, nghiên cứu tại cơ quan chuyên về Hán Nôm. Nhờ đó, nhiều tấm bia nay đã mất ngoài thực địa vẫn còn chữ để đọc.
Làm gì khi làng bạn có một tấm bia cổ?
Nếu làng bạn có bia cổ, việc đầu tiên đơn giản là chụp ảnh thật rõ từng mặt, ghi lại vị trí, kích thước, tình trạng. Ảnh chụp nên có ánh sáng xiên để chữ nổi lên.
Tiếp theo, bạn có thể liên hệ các nhà nghiên cứu Hán Nôm hoặc bảo tàng tỉnh để nhờ đọc. Nhiều người trong nghề rất sẵn lòng giúp, vì mỗi tấm bia chưa được biết tới đều là một phát hiện nhỏ.
Điều không nên làm là tự ý tô chữ bằng sơn cho dễ đọc, hay di dời bia khỏi chỗ cũ. Sơn làm hỏng bề mặt và che mất nét khắc gốc, còn di dời làm mất bối cảnh, vì vị trí đặt bia cũng là một thông tin lịch sử.
Một tấm bia đứng im ở góc sân đình có thể đã đứng đó vài trăm năm. Chỉ cần một người chịu dừng lại đọc, nó sẽ bắt đầu kể chuyện.
Câu hỏi thường gặp
Bia hậu là gì?
Bia hậu là bia ghi việc một người gửi tiền hoặc ruộng cho làng, cho chùa hay cho họ, để sau khi mất được cúng giỗ. Bia thường ghi tên người gửi, tài sản gửi và lệ cúng mà làng cam kết.
Thác bản văn bia là gì?
Thác bản là bản giấy dập từ mặt bia, trong đó chữ khắc lõm hiện lên màu trắng trên nền mực. Thác bản giúp lưu giữ và nghiên cứu văn bia mà không phải mang đá đi, và vẫn còn giá trị khi bia gốc đã mòn hoặc mất.
Làm sao biết một tấm bia được dựng năm nào?
Thường ở cuối văn bia có dòng ghi niên hiệu và ngày tháng dựng bia. Người nghiên cứu đổi niên hiệu ra năm dương lịch, đồng thời đối chiếu với kiểu hoa văn và cách kiêng huý để kiểm tra.
Có nên tô sơn vào chữ trên bia cho dễ đọc không?
Không nên. Sơn làm biến dạng nét khắc gốc, có thể tô sai chữ và gây hại cho bề mặt đá. Muốn chữ rõ hơn, hãy chụp ảnh với ánh sáng xiên hoặc nhờ người có chuyên môn dập bia.
Văn bia có đáng tin như sử liệu không?
Văn bia là sử liệu gốc rất quý vì được làm gần thời sự việc. Tuy vậy, bia công đức và bia hậu thường mang giọng ca ngợi, nên dùng tốt nhất cho việc biết ai đã làm gì, còn lời khen thì nên đọc dè dặt.