Địa bạ là sổ ruộng đất của từng làng, được triều Nguyễn cho lập chủ yếu dưới thời Gia Long và Minh Mạng, ghi mỗi thửa ruộng rộng bao nhiêu, thuộc hạng nào, là ruộng công của làng hay ruộng tư của ai, và giáp ranh những đâu. Đọc địa bạ, người làm sử dựng lại được làng xưa ai có ruộng, ruộng nhiều hay ít, và làng trông ra sao trên mặt đất.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Nghe tên thì địa bạ có vẻ là loại giấy tờ khô khan nhất có thể tưởng tượng. Nhưng với người làm lịch sử nông thôn, đây là một trong những nguồn quý nhất. Tập này mình kể địa bạ ghi gì, được dùng thế nào, và cả những chỗ nó có thể đánh lừa người đọc.
Một cuốn địa bạ ghi những gì?
Mỗi cuốn địa bạ thường ứng với một làng, hay nói theo đơn vị hành chính xưa là một xã, thôn, phường. Mở đầu là phần giới thiệu làng thuộc tổng nào, huyện nào, phủ nào, giáp những làng nào ở bốn phía đông tây nam bắc.
Tiếp đó là tổng diện tích đất của làng, chia ra các loại: ruộng công, ruộng tư, đất ở, đất trồng màu, đất bãi, ao hồ, đất chùa, đất đình, và những loại đất không chịu thuế.
Phần chính là từng thửa ruộng, ghi xứ đồng, diện tích tính theo mẫu, sào, thước, hạng ruộng tốt hay xấu, và với ruộng tư thì tên người đứng chủ. Mỗi thửa còn ghi bốn phía giáp ai, giáp đâu.
Cuối sổ thường có chữ ký hoặc điểm chỉ của chức dịch trong làng, cam đoan những gì kê khai là đúng.
Vì sao triều đình cần lập địa bạ?
Lý do trước hết là thuế. Ruộng đất là nguồn thu chính của nhà nước nông nghiệp. Biết mỗi làng có bao nhiêu ruộng, hạng nào, thì mới định được làng phải nộp bao nhiêu thóc, bao nhiêu tiền.
Lý do thứ hai là quản lý. Triều Nguyễn thống nhất một lãnh thổ trải dài từ Bắc vào Nam, với tập quán ruộng đất rất khác nhau giữa các vùng. Lập địa bạ theo một khuôn mẫu chung là cách để triều đình nhìn toàn cõi bằng một thứ ngôn ngữ thống nhất.
Lý do thứ ba là giải quyết tranh chấp. Khi hai làng hay hai nhà cãi nhau về ranh ruộng, cuốn sổ có chữ ký của làng là căn cứ để quan xét xử.
Hiểu mục đích này giúp mình đoán trước những chỗ địa bạ có thể lệch: nơi nào liên quan tới thuế, nơi đó người khai có lý do để khai thấp.
Nhà nghiên cứu đọc ra được gì từ địa bạ?
Hiện kho địa bạ triều Nguyễn được lưu ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia Một, với khoảng mười nghìn tập, bao phủ phần lớn các làng thời đó. Đây là một khối tư liệu rất lớn và khá đồng đều về cách ghi chép.
Từ đó, các nhà nghiên cứu đã làm được những việc rất thú vị. Họ tính được ở mỗi vùng, ruộng công chiếm phần lớn hay phần nhỏ. Họ thấy ở nhiều làng Bắc Bộ, ruộng đất khá manh mún, mỗi nhà vài sào rải rác nhiều xứ đồng, trong khi ở Nam Bộ có những điền chủ đứng tên diện tích rất lớn.
Họ còn đọc được tên người. Danh sách chủ ruộng cho biết họ nào đông trong làng, phụ nữ có đứng tên ruộng hay không, người ở làng khác có sở hữu ruộng trong làng này không.
Tên các xứ đồng trong địa bạ cũng là một kho địa danh cổ. Nhiều tên vẫn còn được người làng gọi tới hôm nay, như một sợi dây nối liền mấy trăm năm.
Những chỗ địa bạ có thể đánh lừa người đọc
Địa bạ là sổ sách kê khai, không phải ảnh chụp từ trên cao. Có những làng khai thiếu diện tích để giảm thuế. Có những thửa ruộng thật ra do một người khác canh tác nhưng đứng tên người này.
Đơn vị đo cũng là cái bẫy. Mẫu, sào, thước ở mỗi vùng, mỗi thời có thể không hoàn toàn giống nhau, nên quy đổi ra mét vuông hôm nay cần thận trọng và nên dựa vào nghiên cứu chuyên sâu.
Còn một điều nữa: địa bạ là ảnh chụp một thời điểm. Ruộng đất thì luôn chuyển tay qua mua bán, thừa kế, cầm cố. Nhìn một cuốn địa bạ rồi nói làng này suốt thời Nguyễn đều như vậy là lỗi mà người mới hay mắc.
Vì thế, người làm sử thường đọc địa bạ cùng với văn tự mua bán ruộng, gia phả, hương ước, để thấy chuyển động phía sau con số tĩnh.
Tìm địa bạ làng mình có khó không?
Với người quan tâm tới lịch sử quê mình, địa bạ là một nguồn đáng thử. Bạn có thể liên hệ Trung tâm Lưu trữ quốc gia Một để hỏi thủ tục tra cứu, hoặc tìm các công trình nghiên cứu đã công bố địa bạ theo tỉnh, theo vùng.
Khó khăn lớn nhất là địa bạ viết bằng chữ Hán, với tên riêng đôi khi ghi bằng chữ Nôm, lại có nhiều thuật ngữ hành chính cũ. Bạn sẽ cần người đọc Hán Nôm giúp, và cần biết tên làng mình ngày xưa, vì nhiều làng đã đổi tên, sáp nhập, tách ra.
Nhưng phần thưởng rất xứng đáng. Có người lần theo địa bạ tìm được tên cụ tổ mình đứng chủ một thửa ruộng ở xứ đồng mà ngày nay vẫn mang tên cũ.
Lúc ấy, một cuốn sổ ruộng khô khan bỗng thành một trang gia sử. Và bạn sẽ hiểu vì sao giới sử học quý những tập giấy ấy tới vậy.
Câu hỏi thường gặp
Địa bạ khác sổ đỏ ngày nay thế nào?
Sổ đỏ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho từng người, còn địa bạ là sổ tổng hợp ruộng đất của cả một làng do nhà nước lập để quản lý và thu thuế. Địa bạ không phải giấy tờ pháp lý có giá trị với đất đai hôm nay.
Địa bạ triều Nguyễn được lập vào thời nào?
Phần lớn địa bạ triều Nguyễn được lập dưới thời Gia Long và Minh Mạng, tức nửa đầu thế kỷ mười chín, theo các đợt đo đạc khác nhau ở từng vùng. Có vùng lập sớm, có vùng lập muộn hơn.
Ruộng công và ruộng tư khác nhau ra sao?
Ruộng công thuộc làng, được chia cho dân trong làng cày cấy theo lệ và định kỳ chia lại. Ruộng tư thuộc sở hữu riêng của từng người, có thể mua bán, cầm cố, để lại cho con cháu.
Có thể dùng địa bạ để đòi lại đất ông bà để lại không?
Không. Địa bạ là tài liệu lịch sử, không có giá trị pháp lý để xác lập quyền sử dụng đất hiện nay. Các vấn đề đất đai hôm nay cần theo pháp luật hiện hành và làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
Tra cứu địa bạ cần chuẩn bị gì?
Nên biết tên cũ của làng, tổng, huyện thời Nguyễn, và liên hệ trước với cơ quan lưu trữ để hỏi thủ tục. Vì địa bạ viết bằng chữ Hán, bạn nên có người đọc Hán Nôm hỗ trợ.