NhaSuHoc.comPodcast lịch sử kể cho người thường
Làng xã và dòng họ

Hương ước là gì: luật lệ riêng của làng Việt xưa

Hương ước là văn bản ghi lệ làng, do chính làng soạn và cùng cam kết, quy định từ việc tế lễ, ăn khao, chia cỗ tới giữ đê, cấm chặt cây, phạt người vi phạm. Nó cho thấy làng xưa tự quản đời sống của mình tới mức nào.

Cụ ông đọc tờ giấy bên hiên đình, người làng đứng quanh lắng nghe

Hương ước là văn bản ghi lại lệ làng, do chính dân làng soạn ra và cùng cam kết làm theo. Nó quy định đủ thứ việc: tế lễ ở đình, ăn khao khi đỗ đạt, chia cỗ, giữ đê, cấm chặt cây, bắt trộm, và phạt người vi phạm ra sao. Đọc hương ước, mình thấy làng xưa tự quản đời sống của mình tới mức đáng ngạc nhiên.

Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Câu phép vua thua lệ làng thì ai cũng từng nghe. Nhưng lệ làng cụ thể ghi những gì, ai viết, có thật là mạnh hơn phép vua không, thì ít người biết. Tập này mình mở một bản hương ước ra, đọc cùng bạn.

Hương ước ra đời để làm gì?

Làng Việt xưa, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, là một đơn vị khá khép kín. Nhà nước trung ương quản lý qua các chức dịch trong làng, nhưng phần lớn việc thường ngày thì làng tự lo: sửa đường, giữ đê, canh phòng trộm cướp, tổ chức lễ hội, giải quyết xích mích nhỏ.

Để làm những việc ấy mà không cãi nhau mãi, làng cần những quy tắc chung được mọi người thừa nhận. Hương ước là nơi ghi các quy tắc đó thành văn.

Trước khi được ghi thành văn, nhiều lệ đã tồn tại dưới dạng tập quán truyền miệng. Việc viết ra giúp lệ rõ ràng hơn, ít bị bẻ cong, và có thể đem ra đối chứng khi có tranh chấp.

Nói gọn, hương ước giống như bản quy ước của một cộng đồng nhỏ, chỉ khác là nó điều chỉnh gần như toàn bộ đời sống chung của cả làng.

Trong một bản hương ước có gì?

Mỗi làng một bản, nhưng các hương ước thường có những nhóm điều khoản giống nhau. Nhóm đầu là việc thờ cúng: lễ ở đình, ở chùa, ở miếu, ai đứng tế, ai lo cỗ, đóng góp thế nào.

Nhóm thứ hai là thứ bậc và nghi lễ: chỗ ngồi ở đình theo tuổi tác, chức vị, đỗ đạt; lệ khao vọng khi có người lên lão, đỗ đạt, được chức; lệ nộp cheo khi cưới vợ. Những điều khoản này cho thấy làng xưa rất coi trọng vị trí của mỗi người trong cộng đồng.

Nhóm thứ ba là trật tự và sản xuất: bảo vệ đê điều, cấm thả trâu bò phá lúa, cấm chặt cây ở rừng hay bãi chung, phân công canh gác, xử lý trộm cắp. Nhóm thứ tư là khuyến học và đạo đức: thưởng cho người học giỏi, phạt người bất hiếu, cờ bạc, gây gổ.

Cuối mỗi điều thường ghi mức phạt: phạt tiền, phạt lợn gà, phạt trầu rượu, có khi bắt quỳ trước đình. Đọc mức phạt, mình biết làng coi lỗi nào là nặng, lỗi nào là nhẹ.

Phép vua thua lệ làng: đúng tới đâu?

Câu phép vua thua lệ làng dễ khiến người ta tưởng làng xưa có thể làm trái luật triều đình. Thực tế phức tạp hơn. Làng vẫn phải nộp thuế, đi lính, đi phu cho nhà nước, và các việc lớn như án mạng vẫn thuộc quyền quan xử.

Câu ấy phản ánh đúng hơn một điều khác: trong đời sống thường ngày, lệ làng tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới người dân hơn luật triều đình ở xa. Một người có thể cả đời không gặp quan, nhưng năm nào cũng phải theo lệ đình, lệ cỗ, lệ cheo.

Triều đình nhiều lúc cũng muốn kiểm soát hương ước, yêu cầu làng trình lệ lên để xét, hoặc ban hành những điều giáo hoá chung. Mối quan hệ giữa phép vua và lệ làng vì thế là một sự giằng co liên tục chứ không phải một bên thắng hẳn.

Người làm sử thích hương ước chính vì nó cho thấy sự giằng co ấy ở cấp thấp nhất, nơi quyền lực nhà nước gặp tập quán của dân.

Mặt sáng và mặt tối của lệ làng

Hương ước có nhiều điều đáng quý. Tinh thần giữ đê chung, bảo vệ cây cối, khuyến khích con em học hành, giúp đỡ người neo đơn cho thấy một cộng đồng biết lo việc chung.

Nhưng hương ước cũng có mặt khác. Lệ khao vọng, cỗ bàn nặng nề có thể khiến những gia đình nghèo phải bán ruộng để lo cho bằng làng bằng xóm. Thứ bậc ở đình có thể loại trừ người ngụ cư, người mới đến, dù họ đã sống trong làng nhiều năm.

Phụ nữ hầu như không có chỗ ngồi ở đình, không tham gia bàn việc làng. Những điều ấy không được viết ra như một sự phân biệt, mà hiện ra qua việc hương ước chỉ nói tới đàn ông khi bàn chuyện quyền lợi.

Đọc hương ước cho công bằng là thấy cả hai mặt, không lý tưởng hoá làng xưa như một cộng đồng hoàn hảo, cũng không coi đó là nơi chỉ có hủ tục.

Hương ước qua các thời và bây giờ

Vào đầu thế kỷ hai mươi, chính quyền thuộc địa cho soạn lại hương ước nhiều làng ở Bắc Kỳ theo một khuôn mẫu chung, thường được gọi là hương ước cải lương. Các bản này có cấu trúc giống nhau hơn, và phản ánh ý muốn của chính quyền muốn can thiệp sâu hơn vào việc làng.

Nhờ đợt soạn lại ấy mà hiện nay còn giữ được một số lượng lớn hương ước bằng chữ Hán, chữ Nôm và cả chữ Quốc ngữ, được lưu ở các thư viện, viện nghiên cứu. Đây là kho tư liệu quý cho ai muốn tìm hiểu làng mình.

Ngày nay, nhiều làng vẫn có quy ước cộng đồng mới, bàn những chuyện như giữ vệ sinh, tổ chức cưới tang tiết kiệm, bảo vệ cảnh quan. Tinh thần tự quản của làng xưa vẫn sống, dưới một hình thức khác.

Nếu làng bạn còn giữ bản hương ước cũ, hãy thử tìm đọc. Có khi bạn sẽ bật cười vì một điều phạt rất đời thường, và cũng có khi bạn sẽ lặng đi trước một điều khoản cho thấy cả làng từng cùng nhau vượt qua khó khăn ra sao.

Câu hỏi thường gặp

Phép vua thua lệ làng có nghĩa là gì?

Câu này nói rằng trong đời sống thường ngày, lệ làng có tác động trực tiếp và mạnh hơn luật triều đình ở xa. Nó không có nghĩa là làng được làm trái luật trong những việc lớn như thuế, lính hay án mạng.

Ai là người soạn hương ước?

Hương ước thường do các chức sắc, kỳ mục và người có học trong làng soạn, rồi được dân làng hay đại diện các giáp cùng thừa nhận. Ở một số thời, bản hương ước còn phải trình lên quan trên xét duyệt.

Hương ước cải lương là gì?

Đó là những bản hương ước được soạn lại theo khuôn mẫu chung vào đầu thế kỷ hai mươi dưới chính quyền thuộc địa ở Bắc Kỳ. Các bản này có cấu trúc thống nhất hơn và nay là nguồn tư liệu phong phú.

Tiền cheo là gì?

Tiền cheo là khoản tiền hay lễ vật mà người cưới vợ nộp cho làng theo lệ, để việc cưới được làng thừa nhận. Mức nộp và cách nộp tuỳ mỗi làng quy định trong hương ước.

Tìm đọc hương ước của làng mình ở đâu?

Có thể hỏi các cụ trong làng, ban quản lý đình, thư viện hoặc bảo tàng tỉnh và các cơ quan nghiên cứu Hán Nôm. Nhiều bản hương ước đầu thế kỷ hai mươi hiện được lưu ở các thư viện lớn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183