Cái Chết Đen là đại dịch hạch quét qua châu Âu vào giữa thế kỷ mười bốn, và theo ước tính của giới sử học, nó cướp đi khoảng một phần ba tới một nửa dân số châu lục chỉ trong vài năm. Hậu quả của nó kéo dài hơn nhiều so với chính trận dịch: thiếu người làm, tiền công tăng, trật tự cũ lung lay, và con người học được những cách phòng dịch mà tới nay ta vẫn dùng.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Sau những năm cả thế giới sống cùng một đại dịch gần đây, nhiều người đọc lại câu chuyện Cái Chết Đen với một cảm giác khác. Tập này mình kể nó lan ra sao, người thời đó giải thích thế nào, và những thay đổi nó để lại.
Dịch đến từ đâu và lan theo đường nào?
Theo phần lớn các ghi chép, dịch tới vùng Địa Trung Hải vào cuối năm một nghìn ba trăm bốn mươi bảy, theo những con tàu buôn đi từ bờ Biển Đen. Từ các cảng lớn, nó lan theo đường buôn bán vào sâu lục địa, rồi lên phía bắc, tới gần như mọi ngóc ngách châu Âu trong vòng vài năm.
Trước khi tới châu Âu, dịch đã hoành hành ở nhiều vùng châu Á và Trung Đông. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó đi theo các tuyến giao thương nối Á Âu, dù điểm khởi phát chính xác và đường đi cụ thể vẫn đang được tranh luận.
Mầm bệnh là vi khuẩn dịch hạch. Điều này từng chỉ là suy luận từ triệu chứng mô tả trong sử liệu, nhưng những năm gần đây các nhà khoa học đã tìm được vật chất di truyền của vi khuẩn trong răng người chết ở các hố chôn tập thể thời ấy, xác nhận khá chắc chắn.
Bệnh có nhiều thể. Có thể gây sưng hạch, có thể tấn công phổi và lây qua hơi thở. Vai trò chính xác của chuột, bọ chét và sự lây trực tiếp giữa người với người vẫn là đề tài nghiên cứu.
Con số một phần ba tới một nửa được tính thế nào?
Thời trung cổ không có điều tra dân số như bây giờ. Vậy làm sao giới sử học ước tính được số người chết?
Họ dùng những nguồn gián tiếp. Sổ ghi của nhà thờ về tang lễ, danh sách thuế cho biết số hộ trước và sau dịch, hồ sơ đất đai của các lãnh chúa ghi những mảnh ruộng bỗng không còn người thừa kế. Ở vài nơi, sổ sách còn đủ để so sánh khá sát.
Kết quả rất khác nhau giữa các vùng. Có thành phố mất quá nửa dân, có làng gần như biến mất, có nơi lại bị ảnh hưởng ít hơn. Con số một phần ba tới một nửa là cách nói gộp cho cả châu lục, với khoảng dao động rộng vì dữ liệu không đầy đủ.
Khi bạn thấy một bài viết nêu con số chính xác tới từng triệu người, hãy nhớ rằng đó là ước tính, và các nhà nghiên cứu nghiêm túc luôn kèm theo biên độ sai.
Người thời đó giải thích đại dịch ra sao?
Không có khái niệm vi khuẩn, người thời trung cổ tìm cách giải thích theo hiểu biết của họ. Nhiều thầy thuốc tin vào thuyết khí độc, rằng bệnh sinh ra từ không khí bị ô nhiễm. Một số người nhìn lên trời, cho rằng vị trí các hành tinh là nguyên nhân. Nhiều người coi đó là sự trừng phạt của thần thánh.
Nỗi sợ hãi đã dẫn tới những điều khủng khiếp. Ở nhiều nơi, các cộng đồng Do Thái bị vu cáo đầu độc giếng nước và bị tàn sát. Đây là một trang tối cần được nhớ, như một lời cảnh báo về việc đi tìm vật tế thần trong khủng hoảng.
Cũng có những đoàn người đi khắp nơi tự đánh roi vào thân để sám hối, mong xin được tha tội. Giáo hội sau đó phải lên tiếng hạn chế phong trào này.
Nhìn lại, dễ thấy những lời giải thích ấy sai. Nhưng nhớ bài học về lỗi thời đại: họ không thiếu thông minh, họ thiếu công cụ để thấy thứ quá nhỏ bé đang giết họ.
Cách ly: một bài học còn dùng tới hôm nay
Dù không hiểu nguyên nhân, người châu Âu dần rút ra kinh nghiệm từ quan sát: bệnh đi theo người và hàng hoá. Một số thành phố cảng bắt đầu buộc tàu thuyền và người từ vùng có dịch phải chờ một thời gian trước khi được vào.
Thành phố Ragusa, nay là Dubrovnik, thường được nhắc tới như một trong những nơi đầu tiên ban hành quy định như vậy vào cuối thế kỷ mười bốn, ban đầu là ba mươi ngày. Về sau, ở nhiều nơi thời gian chờ là bốn mươi ngày, và chữ quarantine trong tiếng Anh bắt nguồn từ con số bốn mươi trong tiếng Ý.
Còn hình ảnh bác sĩ đeo mặt nạ mỏ chim dài mà nhiều người gắn với Cái Chết Đen thì thật ra xuất hiện muộn hơn nhiều, vào khoảng thế kỷ mười bảy, trong những đợt dịch hạch sau này. Đây là một lỗi thời đại rất phổ biến trong phim ảnh và minh hoạ.
Dịch hạch còn quay lại châu Âu nhiều lần trong mấy thế kỷ tiếp theo, và các biện pháp cách ly được hoàn thiện dần qua từng đợt.
Những thay đổi lâu dài sau đại dịch
Khi một phần lớn người lao động chết đi, những người sống sót bỗng trở nên quý giá. Ở nhiều vùng, nông dân và thợ thủ công đòi được trả công cao hơn, hoặc rời bỏ lãnh chúa để tìm nơi trả tốt hơn.
Giới cầm quyền tìm cách chặn lại. Ở nước Anh, chỉ vài năm sau dịch, một đạo luật về người lao động đã được ban hành nhằm giữ tiền công ở mức cũ. Nhưng những đạo luật như vậy khó thực thi khi người làm thực sự khan hiếm.
Nhiều nhà sử học cho rằng Cái Chết Đen đã góp phần làm suy yếu chế độ ràng buộc nông dân vào đất ở Tây Âu, và thay đổi quan hệ giữa người làm với người sở hữu ruộng. Mức độ và cơ chế thì vẫn còn tranh luận, vì mỗi vùng diễn biến khác nhau.
Có lẽ điều đáng suy ngẫm nhất là một đại dịch không chỉ lấy đi sinh mạng. Nó phơi bày những điểm yếu của xã hội, và buộc những người còn lại phải sắp xếp lại cách họ sống với nhau.
Câu hỏi thường gặp
Cái Chết Đen xảy ra vào thời gian nào?
Đợt dịch lớn nhất quét qua châu Âu trong khoảng từ cuối năm một nghìn ba trăm bốn mươi bảy tới đầu những năm năm mươi của thế kỷ mười bốn. Dịch hạch còn quay lại nhiều lần trong các thế kỷ sau.
Cái Chết Đen do loại bệnh gì gây ra?
Đó là bệnh dịch hạch do vi khuẩn gây ra. Các nhà khoa học đã tìm được vật chất di truyền của vi khuẩn này trong hài cốt ở các hố chôn tập thể thời đó, xác nhận điều trước kia chỉ là suy luận.
Vì sao gọi là Cái Chết Đen?
Tên gọi này phần lớn được dùng phổ biến ở các thế kỷ sau, người đương thời thường gọi đơn giản là đại dịch hay đại tử vong. Chữ đen có thể mang nghĩa khủng khiếp, u ám, còn việc nó có gắn với vết thâm trên da người bệnh hay không thì chưa chắc.
Bác sĩ mỏ chim có từ thời Cái Chết Đen không?
Không. Trang phục mặt nạ mỏ chim xuất hiện muộn hơn, vào khoảng thế kỷ mười bảy, trong các đợt dịch hạch sau này. Gắn nó với thế kỷ mười bốn là một lỗi thời đại phổ biến.
Chữ quarantine có nguồn gốc từ đâu?
Chữ này bắt nguồn từ con số bốn mươi trong tiếng Ý, chỉ bốn mươi ngày tàu thuyền và người từ vùng có dịch phải chờ trước khi vào thành phố. Việc cách ly được áp dụng dần ở các thành phố cảng từ cuối thế kỷ mười bốn.