Hội An từng là thương cảng quốc tế lớn nhất của Đàng Trong trong thế kỷ mười sáu và mười bảy, nơi thương nhân Nhật Bản, người Hoa và người châu Âu tụ về mua tơ, đường, trầm hương. Nó lặng đi không vì một lý do mà vì nhiều lý do cộng lại: Nhật Bản đóng cửa, chiến tranh cuối thế kỷ mười tám, cửa sông bồi lắng, và Đà Nẵng dần thay thế. Và chính vì lặng đi, phố cổ mới còn lại gần như nguyên vẹn tới hôm nay.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Hội An là nơi nhiều người đã đến, chụp ảnh đèn lồng, ăn cao lầu. Tập này mình kể phần lịch sử phía sau những bức tường vàng, và vì sao một cảng đang thịnh lại có thể lặng đi.
Vì sao các chúa Nguyễn cần một thương cảng?
Khi các chúa Nguyễn xây dựng cơ đồ ở Đàng Trong, họ đứng trước một bài toán lớn: vùng đất mới cần tiền và vũ khí để đứng vững trước Đàng Ngoài. Buôn bán với nước ngoài là một nguồn thu quan trọng.
Vùng cửa sông Thu Bồn có lợi thế: gần các vùng sản xuất tơ lụa, đường, và gần những vùng núi có trầm hương, quế, những mặt hàng người nước ngoài rất muốn mua. Cửa sông ra biển lại thuận cho thuyền buồm neo đậu.
Các chúa Nguyễn nhìn chung có thái độ khá cởi mở với thương nhân nước ngoài, cho họ lập phố, tự quản trong cộng đồng, miễn là nộp thuế và giữ trật tự.
Người châu Âu gọi thương cảng này là Faifo, một cách phiên âm mà các nhà nghiên cứu thường liên hệ với tên gọi Hội An phố, hay Hoài Phố.
Phố Nhật, phố Hoa và chiếc cầu nổi tiếng
Thế kỷ mười sáu cuối và đầu thế kỷ mười bảy, thương nhân Nhật Bản đến Hội An rất đông, dưới hình thức những con tàu được chính quyền Nhật cấp phép đi buôn phương Nam. Họ lập một khu phố riêng.
Chiếc cầu có mái mà người ta hay gọi là Chùa Cầu thường được cho là do cộng đồng người Nhật dựng, nên còn có tên cầu Nhật Bản. Tuy vậy, cây cầu đã được sửa chữa nhiều lần qua các thời, và hình dáng hiện nay mang dấu ấn của nhiều giai đoạn, không phải nguyên bản ban đầu.
Từ những năm ba mươi của thế kỷ mười bảy, Nhật Bản thực hiện chính sách hạn chế giao thương với nước ngoài và cấm người Nhật ra nước ngoài. Cộng đồng Nhật ở Hội An mất nguồn bổ sung, dần hoà vào cư dân địa phương hoặc biến mất.
Người Hoa trở thành cộng đồng thương nhân chủ đạo. Các hội quán của người Hoa theo từng vùng quê gốc, như những hội quán ta thấy trên phố cổ hôm nay, là dấu vết rõ nhất của thời kỳ này.
Hội An buôn bán những gì với thế giới?
Hàng xuất đi từ Hội An gồm tơ sống, lụa, đường, trầm hương, quế, hồ tiêu, gỗ quý, yến sào. Trầm hương và tơ lụa là những mặt hàng có giá trị cao.
Hàng nhập về gồm đồng, bạc, gốm sứ, vũ khí, và nhiều loại hàng tiêu dùng. Người Nhật mang đồng và bạc, người Hoa mang gốm sứ và hàng thủ công, người châu Âu quan tâm tới những mặt hàng có thể bán lại ở nơi khác.
Hoạt động buôn bán theo mùa gió. Thuyền buồm đến theo gió mùa đông bắc, lưu lại buôn bán vài tháng, rồi đi theo gió mùa tây nam. Những tháng thuyền đến, Hội An họp chợ lớn, người các nơi đổ về.
Nhịp mùa gió ấy giải thích vì sao ở Hội An có cả một tầng lớp người chuyên cho thuê nhà, làm môi giới, phiên dịch, một thứ kinh tế dịch vụ rất sớm.
Vì sao thương cảng lặng đi?
Mất khối thương nhân Nhật từ thế kỷ mười bảy là cú đánh đầu tiên, dù người Hoa vẫn giữ cho Hội An sống tiếp.
Cuối thế kỷ mười tám, chiến tranh giữa các thế lực ở Đàng Trong làm Hội An chịu nhiều tàn phá. Buôn bán bị gián đoạn, nhiều thương nhân bỏ đi.
Một nguyên nhân thường được nhắc là cửa sông và lòng sông Thu Bồn bồi lắng, tàu lớn khó vào hơn. Đây là giả thuyết được nhiều người chấp nhận, nhưng mức độ ảnh hưởng của nó so với các nguyên nhân khác vẫn còn bàn.
Sang thế kỷ mười chín, dưới triều Nguyễn, Đà Nẵng với vịnh nước sâu dần trở thành cửa ngõ chính của vùng. Tàu thuyền lớn kiểu mới cần cảng nước sâu, và Hội An không đáp ứng được. Khi con đường sắt và đường bộ mới hình thành, Hội An càng xa khỏi mạch chính.
Nhờ lặng đi mà phố cổ còn lại
Có một nghịch lý: chính vì Hội An bị bỏ lại phía sau trong thế kỷ mười chín và hai mươi, phố cổ của nó mới không bị phá đi để xây mới. Không ai đổ tiền xây nhà cao tầng ở một thị trấn đã hết thời.
Vì vậy, Hội An giữ được một quần thể nhà phố, hội quán, đình chùa, giếng nước khá liền mạch. Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hoá Thế giới.
Nhiều ngôi nhà trên phố cổ có kiểu nhà ống sâu, mặt tiền buôn bán, phía sau là nơi ở và kho. Kết cấu gỗ bên trong mang dấu ấn của nhiều truyền thống kiến trúc, cho thấy sự giao thoa của các cộng đồng từng sống ở đây.
Lần tới dạo phố cổ, bạn có thể thử tìm những dấu vết ấy: một hội quán ghi quê gốc, một cây cầu có mái, một bến sông nơi thuyền buồm từng neo theo mùa gió. Hội An đẹp không chỉ vì đèn lồng, mà vì nó là một thương cảng được thời gian giữ lại.
Câu hỏi thường gặp
Hội An thịnh vượng nhất vào thời nào?
Hội An thịnh vượng nhất trong khoảng cuối thế kỷ mười sáu tới thế kỷ mười bảy, khi là thương cảng quốc tế chính của Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn.
Faifo là gì?
Faifo là tên người châu Âu dùng để gọi Hội An trong các ghi chép và bản đồ cũ. Các nhà nghiên cứu thường liên hệ tên này với cách gọi Hội An phố hay Hoài Phố.
Chùa Cầu có phải do người Nhật xây không?
Chùa Cầu thường được cho là do cộng đồng người Nhật ở Hội An dựng, nên còn gọi là cầu Nhật Bản. Tuy vậy, cây cầu đã được sửa chữa nhiều lần nên hình dáng hiện nay không còn là nguyên bản ban đầu.
Đô thị cổ Hội An được UNESCO công nhận năm nào?
Đô thị cổ Hội An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hoá Thế giới năm một nghìn chín trăm chín mươi chín.
Vì sao người Nhật rời Hội An?
Từ những năm ba mươi của thế kỷ mười bảy, Nhật Bản hạn chế giao thương với nước ngoài và cấm người Nhật ra nước ngoài. Cộng đồng Nhật ở Hội An không được bổ sung nên dần hoà vào cư dân địa phương hoặc biến mất.