Phê phán sử liệu là việc tra hỏi một tài liệu cổ trước khi tin nó, theo hai tầng. Tầng thứ nhất hỏi tài liệu này có đúng là của thời đó, của người đó hay không. Tầng thứ hai hỏi những gì nó kể đáng tin tới đâu, vì người viết đứng ở vị trí nào và viết ra để làm gì.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Chữ phê phán ở đây không có nghĩa là chê bai. Nó giống việc một người thẩm phán nghe lời khai: không vội tin, cũng không vội bác, mà hỏi đi hỏi lại cho tới khi biết lời khai ấy nặng bao nhiêu. Tập này mình kể cách người làm sử làm việc đó với một tờ giấy cũ.
Tầng thứ nhất: tài liệu này có đúng là của thời đó?
Giới sử học gọi tầng này là ngoại phê, tức là xét cái vỏ bên ngoài của tài liệu. Câu hỏi rất đời thường: giấy này, mực này, nét chữ này có hợp với thời mà tài liệu tự nhận không.
Với văn bản Hán Nôm, có vài manh mối rất hay. Một là chữ kiêng huý. Mỗi triều vua cấm viết thẳng một số chữ trùng tên vua hoặc tên người trong hoàng tộc, phải viết thiếu nét hoặc thay chữ khác. Một văn bản tự nhận là của thế kỷ mười lăm mà lại kiêng một chữ chỉ bị cấm dưới triều Nguyễn thì rõ ràng có vấn đề.
Hai là niên hiệu. Mỗi đời vua có niên hiệu riêng. Nếu một tờ văn tự ghi một niên hiệu vào một năm mà niên hiệu đó chưa hoặc không còn được dùng, người đọc phải đặt dấu hỏi lớn.
Ba là cách dùng từ và thể thức. Văn bản hành chính mỗi thời có công thức mở đầu, kết thúc, cách xưng hô khá cố định. Người quen đọc chỉ cần nhìn vài dòng là cảm thấy chỗ nào lạ.
Chuyện bản chép và bản gốc
Một điều người ngoài ít biết là phần lớn sách Hán Nôm còn lại ngày nay là bản chép tay, có khi chép lại nhiều đời. Khí hậu nóng ẩm, mối mọt, chiến tranh, hoả hoạn khiến giấy xưa khó sống lâu, nên người ta phải chép ra bản mới.
Mỗi lần chép là một lần có thể sai. Chữ Hán có nhiều chữ nét gần giống nhau, người chép mỏi tay có thể nhầm. Có người còn tự ý sửa câu mà họ thấy khó hiểu, thêm lời bình của mình vào.
Vì vậy công việc đầu tiên với một tác phẩm quan trọng thường là so các bản chép với nhau, xem chỗ nào khác, rồi đoán xem bản nào gần bản gốc hơn. Việc này gọi là văn bản học, và nó chậm tới mức một người có thể dành nhiều năm chỉ cho một tác phẩm.
Bài học cho người đọc thường là khi nghe ai trích một câu cổ văn, hãy nhớ rằng câu đó có thể có nhiều dị bản, và trích dẫn tử tế sẽ nói rõ dùng bản nào.
Tầng thứ hai: người viết có lý do gì để kể như vậy?
Khi đã tạm tin tài liệu là thật, việc tiếp theo mới là xét nội dung, giới sử học gọi là nội phê. Câu hỏi then chốt: người viết có mặt ở đó không, biết chuyện qua ai, và có lợi ích gì trong cách kể của mình.
Lấy ví dụ một bản tâu của viên quan địa phương báo lũ lụt. Ông có lý do để kể thiệt hại lớn nếu muốn xin giảm thuế cho dân trong hạt. Ông cũng có lý do để kể nhẹ đi nếu đê vỡ vì ông lơ là. Cùng một trận lụt, hai động cơ cho ra hai bức tranh khác nhau.
Hay một văn bia ghi công người cúng ruộng cho chùa. Văn bia là để lưu danh, nên nó hầu như không bao giờ kể chuyện người đó có tai tiếng gì. Đọc văn bia để biết việc cúng ruộng thì tốt, đọc để đánh giá con người đó thì phải cẩn thận.
Không có tài liệu nào hoàn toàn trung lập. Người làm sử không đi tìm tài liệu không thiên vị, vì nó không tồn tại. Họ đi tìm hiểu thiên vị của từng tài liệu để trừ hao cho đúng.
Chi tiết vô tình: chỗ tài liệu nói thật mà không định nói
Có một mẹo mà người làm sử rất thích: để ý những chi tiết người viết không cố ý kể. Người viết có thể tô vẽ điều họ muốn nhấn mạnh, nhưng những thứ họ nhắc qua vì coi là hiển nhiên thì thường đáng tin hơn.
Ví dụ một tờ văn tự bán ruộng. Mục đích của nó là ghi việc chuyển nhượng. Nhưng qua đó mình biết ruộng ở xứ đồng nào, giáp ruộng nhà ai, người làm chứng là ai, người bán biết ký hay phải điểm chỉ. Những chi tiết đó không ai có lý do để bịa.
Tương tự, một bản khai của làng về số trâu bò có thể bị khai thấp để bớt thuế. Nhưng cách làng kể tên các xứ đồng, các loại ruộng, lại cho thấy rất thật cảnh quan làng lúc đó.
Đọc theo lối này, một tài liệu khô khan nhất cũng có thể mở ra cả một thế giới. Và cũng nhờ lối đọc này mà những người không tự viết về mình, như nông dân, vẫn hiện lên được trong lịch sử.
Bạn có thể tự làm phê phán sử liệu ở nhà
Bạn không cần là nhà nghiên cứu mới dùng được cách nghĩ này. Mỗi khi đọc một bài viết về quá khứ, hay một tấm ảnh cũ lan truyền trên mạng, hãy thử hỏi bốn câu: ai làm ra nó, làm lúc nào, làm cho ai xem, và mình biết những điều đó qua đâu.
Với ảnh cũ trên mạng, nhiều tấm được gắn chú thích sai địa điểm, sai năm, có khi ghép từ hai ảnh khác nhau. Tìm lại nguồn đầu tiên đăng tấm ảnh, xem nó nằm trong bộ sưu tập nào, là một bài phê phán sử liệu nhỏ.
Với chuyện kể trong gia đình, hãy hỏi người kể đã tận mắt thấy hay nghe lại. Không phải để nghi ngờ ông bà, mà để biết câu chuyện nên đặt ở mức chắc chắn nào.
Thói quen hỏi như vậy làm mình chậm lại một chút, nhưng nó giữ mình khỏi việc lan truyền những câu chuyện đẹp mà không thật.
Câu hỏi thường gặp
Ngoại phê và nội phê khác nhau thế nào?
Ngoại phê xét tài liệu có thật là của thời đó, người đó không, qua giấy, mực, chữ viết, niên hiệu, thể thức. Nội phê xét nội dung đáng tin tới đâu, qua vị trí và động cơ của người viết. Thường làm ngoại phê trước rồi mới tới nội phê.
Tài liệu giả có còn giá trị gì với sử gia không?
Có. Một tài liệu giả không cho biết về thời nó tự nhận, nhưng lại cho biết về thời nó được làm giả: ai cần làm giả, để làm gì. Nhiều gia phả được thêm thắt cũng cho thấy dòng họ thời sau muốn nhìn tổ tiên mình ra sao.
Vì sao chữ kiêng huý giúp xác định niên đại?
Vì mỗi triều vua cấm viết một số chữ cụ thể, và lệnh cấm có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Thấy văn bản kiêng chữ nào, người nghiên cứu khoanh được khoảng thời gian văn bản có thể ra đời.
Một nguồn duy nhất có đủ để khẳng định một sự kiện không?
Thường là chưa đủ để nói chắc chắn, nhất là khi người viết có lợi ích trong câu chuyện. Người làm sử sẽ nói theo nguồn này thì như vậy, và tìm thêm nguồn độc lập để xác nhận.
Người không đọc được chữ Hán Nôm có học phê phán sử liệu được không?
Được, vì cách đặt câu hỏi là giống nhau với mọi loại nguồn, từ ảnh cũ, thư từ tới bài báo. Khi cần đọc văn bản Hán Nôm cụ thể, có thể dùng bản dịch có uy tín và để ý người dịch ghi chú những chỗ nào.