Người xưa chia một ngày đêm thành mười hai giờ, đặt tên theo mười hai chi từ Tý tới Hợi, mỗi giờ dài bằng hai tiếng đồng hồ của mình bây giờ; ban đêm lại chia thành năm canh, có trống canh báo. Còn lịch thì theo lối âm dương: tháng theo tuần trăng, nhưng cứ vài năm lại chèn thêm một tháng nhuận để năm không trôi lệch khỏi mùa.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Khi đọc sử cũ, bạn sẽ gặp những chữ như giờ Dần, canh ba, tiết Thanh minh. Tập này mình giải thích những đơn vị ấy từ đâu ra, người xưa dùng chúng thế nào trong đời sống, và vì sao việc làm lịch từng là chuyện hệ trọng của cả triều đình.
Mười hai giờ và mười hai con giáp
Người xưa không chia ngày thành hai mươi bốn tiếng như bây giờ, mà thành mười hai giờ, mỗi giờ mang tên một chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi giờ như thế dài bằng hai tiếng đồng hồ hiện nay.
Giờ Tý nằm quanh nửa đêm, giờ Ngọ nằm quanh giữa trưa. Nên câu giữa trưa đứng bóng còn được gọi là chính Ngọ, và chữ nửa đêm trong văn cũ hay đi với giờ Tý.
Cách chia này đi cùng với mười hai con giáp mà ai cũng biết qua năm tuổi. Người xưa dùng cùng một hệ mười hai chi để gọi giờ, gọi tháng, gọi năm. Kết hợp với mười can, nó tạo nên chu kỳ sáu mươi năm, mà ta quen gọi là lục thập hoa giáp.
Nhờ hệ đếm ấy, khi đọc một văn bản cũ ghi năm Giáp Tý hay năm Canh Thìn, người nghiên cứu phải biết văn bản thuộc đời vua nào mới đổi được ra năm dương lịch, vì cứ sáu mươi năm tên năm lại lặp lại.
Năm canh ban đêm và tiếng trống canh
Ban đêm được chia riêng thành năm canh, từ chập tối tới sáng. Canh một là lúc mới tối, canh ba là lúc khuya nhất, canh năm là gần sáng. Câu văn quen thuộc canh ba nửa đêm chính là từ đó.
Để báo canh, các thành trì, dinh thự và làng xã có người điểm trống canh. Tiếng trống, tiếng mõ vang lên theo nhịp, cho mọi người biết đêm đã tới đâu. Người canh gác thay phiên nhau theo canh, nên chữ canh vừa chỉ thời gian vừa chỉ ca trực.
Muốn biết đã tới canh nào, người xưa dùng nhiều cách: nhìn sao, nhìn trăng, thắp hương đo thời gian cháy, và ở những nơi quan trọng thì dùng đồng hồ nước, tức một bình nước nhỏ giọt đều theo thời gian với vạch khắc để đọc.
Chữ khắc trong thành ngữ canh khắc chính là đơn vị đo nhỏ hơn giờ trên loại đồng hồ nước đó. Một chữ bình thường trong tiếng Việt hôm nay hoá ra mang theo cả một kỹ thuật đo thời gian của người xưa.
Lịch âm dương: vì sao cần tháng nhuận?
Nhiều người gọi lịch cổ truyền là lịch âm, nhưng gọi đúng hơn là lịch âm dương. Tháng được tính theo tuần trăng, từ trăng non tới trăng non kế tiếp, chừng hai mươi chín ngày rưỡi. Nhưng mười hai tháng trăng chỉ dài chừng ba trăm năm mươi tư ngày, ngắn hơn năm mặt trời khoảng mười một ngày.
Nếu cứ để vậy, sau vài năm Tết sẽ trôi dần vào mùa hè. Người làm lịch giải quyết bằng cách thỉnh thoảng thêm một tháng nhuận, đại khái cứ khoảng ba năm lại có một năm mười ba tháng, để lịch khớp lại với mùa.
Với nông dân, điều quan trọng nhất là mùa vụ. Vì vậy lịch còn có hai mươi bốn tiết khí, dựa trên vị trí mặt trời, như Lập xuân, Thanh minh, Hạ chí, Đông chí. Tiết khí bám sát mùa hơn ngày âm, nên người làm ruộng nhìn tiết khí để gieo cấy.
Nói cách khác, cuốn lịch cổ truyền cùng lúc chạy theo hai nhịp: nhịp trăng cho lễ tết, nhịp mặt trời cho việc đồng áng.
Vì sao làm lịch là việc của triều đình?
Trong quan niệm xưa ở Đông Á, ban lịch là một đặc quyền của nhà vua. Vua thay trời trị dân, nên việc xác định thời gian đúng, dự báo nhật thực, nguyệt thực, định ngày lễ, là biểu hiện của tính chính danh.
Triều đình vì thế có cơ quan chuyên về thiên văn và lịch pháp. Thời Nguyễn, cơ quan này là Khâm thiên giám, lo quan sát bầu trời, tính lịch, chọn ngày giờ cho các nghi lễ lớn.
Một lần dự báo sai nhật thực có thể bị coi là điềm xấu, là lỗi của người làm lịch. Nên các nhà thiên văn triều đình chịu áp lực không nhỏ, và phải liên tục học hỏi phương pháp tính mới.
Việc lịch thuộc về nhà nước cũng giải thích một chi tiết thú vị hôm nay: từ nửa sau thế kỷ hai mươi, lịch âm của Việt Nam được tính theo múi giờ Việt Nam, nên có những năm ngày Tết của mình lệch một ngày so với các nước dùng múi giờ khác.
Đọc thời gian trong sử cũ cho khỏi nhầm
Với người đọc sử, hiểu các đơn vị này giúp tránh nhiều lỗi. Ngày tháng trong sử cũ là ngày tháng âm lịch, đổi sang dương lịch phải tra bảng đối chiếu chứ không thể cộng trừ đơn giản.
Chuyện năm cũng cần cẩn thận. Một sự kiện xảy ra vào tháng Chạp năm này theo âm lịch có thể đã sang tháng Một hoặc tháng Hai năm sau theo dương lịch. Nhiều bài viết ghi sai năm của một sự kiện chỉ vì bỏ qua chi tiết đó.
Còn giờ trong sử, như giờ Dần hay giờ Thân, nên hiểu là một khoảng hai tiếng đồng hồ, không phải một thời điểm chính xác tới từng phút.
Lần tới nghe ai nói hẹn nhau giờ Tý hay mãi tới canh ba mới ngủ, bạn sẽ hình dung ra được cả một thế giới đo thời gian bằng trăng, bằng sao, bằng tiếng trống và giọt nước.
Câu hỏi thường gặp
Một giờ theo cách tính xưa dài bao lâu?
Một giờ theo cách tính xưa, như giờ Tý hay giờ Ngọ, dài bằng hai tiếng đồng hồ hiện nay. Một ngày đêm có mười hai giờ như vậy, đặt tên theo mười hai chi.
Canh ba là mấy giờ?
Canh ba là canh giữa của năm canh ban đêm, tức khoảng thời gian quanh nửa đêm. Vì độ dài đêm thay đổi theo mùa, cách chia canh ở từng nơi, từng thời có thể không hoàn toàn giống nhau.
Tháng nhuận là gì?
Tháng nhuận là tháng được thêm vào lịch âm dương khoảng ba năm một lần, để lịch theo mặt trăng không trôi lệch khỏi các mùa của năm mặt trời. Năm có tháng nhuận sẽ có mười ba tháng.
Tiết khí khác ngày âm lịch thế nào?
Tiết khí dựa trên vị trí của mặt trời nên gắn chặt với mùa, còn ngày âm lịch dựa trên tuần trăng. Người làm ruộng xưa dựa vào tiết khí để định thời vụ gieo cấy.
Vì sao Tết Việt Nam có năm lệch một ngày so với Tết ở nơi khác?
Vì lịch âm Việt Nam được tính theo múi giờ của Việt Nam, còn nơi khác tính theo múi giờ của họ. Khi thời điểm trăng non rơi sát nửa đêm, sự chênh múi giờ có thể làm ngày mồng một lệch nhau một ngày.