Học trò xưa thường bắt đầu học chữ Hán từ lúc năm, sáu tuổi với một thầy đồ trong làng, đọc và thuộc lòng sách kinh điển suốt nhiều năm, rồi khi đi thi phải tự gánh theo lều, chõng, nghiên, bút, cơm nắm tới trường thi. Con đường ấy được mở ra từ khoa thi đầu tiên mà sử sách ghi lại, năm một nghìn không trăm bảy mươi lăm dưới triều Lý.
Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Chữ lều chõng nghe quen vì là tên một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Ngô Tất Tố, nhưng hình ảnh thật đằng sau nó ra sao thì không phải ai cũng hình dung được. Tập này mình theo chân một cậu học trò từ lớp học ở nhà thầy tới ngày đi thi.
Khoa thi đầu tiên và người đỗ đầu
Theo sử cũ, năm một nghìn không trăm bảy mươi lăm, triều Lý mở khoa thi chọn người có học, gọi là khoa Minh kinh bác học. Người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, sau này làm tới chức quan cao trong triều.
Đó là khoa thi đầu tiên sử sách ghi lại, nhưng lúc ấy thi cử chưa đều đặn. Thời Lý và thời Trần, khoa thi mở không theo chu kỳ cố định, và việc học còn gắn nhiều với nhà chùa bên cạnh Nho học.
Phải đến thời Lê sơ, nhất là từ thời Lê Thánh Tông, khoa cử mới thành nề nếp, cứ ba năm một khoa. Việc dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu cũng bắt đầu từ thời này.
Vậy nên khi nói người Việt có truyền thống khoa cử gần nghìn năm, cần hiểu rằng suốt vài thế kỷ đầu, đó là một truyền thống còn thưa thớt, chưa phải con đường phổ biến của mọi học trò.
Lớp học ở nhà thầy đồ
Phần lớn trẻ con học chữ ở trường làng, thực chất là nhà của một thầy đồ. Thầy có thể là một ông tú thi mãi không đỗ, một người đỗ đạt về hưu, hay một nho sĩ không muốn ra làm quan.
Học trò ngồi trên chiếu, trước mặt là chiếc bàn thấp. Bài học đầu tiên thường là những sách vỡ lòng dạy mặt chữ và đạo lý đơn giản, rồi lên dần tới Tứ thư, Ngũ kinh, sách sử của Trung Hoa, cùng việc tập làm các lối văn dùng trong thi cử.
Cách học chủ yếu là đọc to và thuộc lòng. Tiếng học trò ê a đọc bài là âm thanh quen thuộc của làng quê xưa. Thầy giảng nghĩa, sửa bài, và không ngần ngại dùng roi.
Học phí thường không trả bằng tiền cố định mà bằng gạo, bằng lễ vật vào dịp Tết, dịp giỗ. Mối quan hệ thầy trò kéo dài suốt đời, và học trò đỗ đạt về làng việc đầu tiên thường là tới lạy tạ thầy.
Mười năm đèn sách: học trò nghèo sống ra sao?
Câu mười năm đèn sách không phải nói quá. Để có sức thi Hương, một người thường phải học liên tục nhiều năm, và phần đông chỉ đỗ khi đã ngoài hai mươi, có người tóc bạc vẫn còn đi thi.
Với gia đình nông dân, nuôi một người đi học là gánh nặng lớn. Cả nhà phải bớt một lao động ngoài đồng. Nhiều người vợ tần tảo nuôi chồng ăn học, và hình ảnh ấy đi vào ca dao, vào thơ Tú Xương với những câu thương vợ nổi tiếng.
Học trò nghèo có khi phải ở trọ nhà thầy, làm việc vặt đổi lấy chỗ ăn học. Có làng đặt ruộng học điền, lấy hoa lợi giúp người học giỏi mà nhà nghèo, và điều ấy được ghi trong hương ước như một niềm tự hào.
Ngọn đèn dầu lạc, cuốn sách chép tay, bộ quần áo sờn, đó là thứ tài sản của phần lớn học trò xưa.
Lều chõng đi thi: một ngày ở trường thi
Trường thi Hương thời Nguyễn là một khoảng đất rộng được rào lại, chia khu, có chòi canh để quan coi thi quan sát. Sĩ tử không có sẵn bàn ghế. Mỗi người phải tự mang theo lều để che mưa nắng, chõng tre để ngồi và nằm, cùng ống quyển đựng giấy, nghiên, bút, mực và đồ ăn.
Từ tờ mờ sáng, sĩ tử xếp hàng chờ gọi tên vào trường, bị khám xét để tránh mang tài liệu. Vào trong, mỗi người tìm chỗ, cắm lều, rồi ngồi làm bài suốt ngày. Mưa to thì lều dột, giấy ướt, là chuyện có thật và đầy lo âu.
Trường thi Nam Định là một trường thi lớn của Bắc Kỳ, sĩ tử nhiều tỉnh đổ về. Những bức ảnh chụp trường thi Nam Định cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi cho thấy cả một biển lều san sát.
Gian lận cũng có, và triều đình đặt ra nhiều lệ để chống, trong đó có rọc phách để giấu tên người thi khi chấm bài. Những kỹ thuật ấy cho thấy người xưa đã nghĩ khá kỹ về chuyện công bằng.
Ông đồ hôm nay và điều còn lại
Khi khoa cử bãi bỏ đầu thế kỷ hai mươi, nghề thầy đồ mất dần chỗ đứng. Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, với hình ảnh ông đồ già ngồi bán chữ bên phố mỗi độ hoa đào nở, đã ghi lại khoảnh khắc buồn của một lớp người ấy.
Ngày nay, hình ảnh ông đồ viết câu đối đỏ ngày Tết trở lại như một nét văn hoá. Phần lớn những người viết thư pháp ở phố ông đồ là người yêu chữ, nhiều người viết cả chữ Quốc ngữ theo lối thư pháp. Đó là một sự tiếp nối mới chứ không phải bản sao của lớp học xưa.
Điều còn lại sâu hơn là thái độ trọng việc học. Nhiều gia đình Việt vẫn coi việc học của con là việc lớn nhất nhà, dù nội dung học đã khác hẳn.
Có lẽ nên nhìn đời học trò xưa bằng cả hai con mắt: trân trọng sự bền bỉ của họ, và tỉnh táo trước một lối học từng bị chính người đương thời chê là quá nặng học thuộc.
Câu hỏi thường gặp
Khoa thi đầu tiên ở Việt Nam là năm nào?
Theo sử cũ, khoa thi đầu tiên được ghi lại là năm một nghìn không trăm bảy mươi lăm dưới triều Lý, gọi là khoa Minh kinh bác học. Người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh.
Lều chõng là gì?
Lều là tấm che dựng tạm để tránh mưa nắng, chõng là chiếc giường tre nhỏ để ngồi viết và nằm nghỉ. Sĩ tử đi thi Hương phải tự mang lều chõng vì trường thi không có sẵn chỗ ngồi.
Học trò xưa học những sách gì?
Trẻ nhỏ học các sách vỡ lòng dạy mặt chữ và đạo lý, rồi lên dần tới Tứ thư, Ngũ kinh và sách sử. Bên cạnh đó là tập làm các lối văn dùng trong thi cử.
Rọc phách trong thi cử xưa là gì?
Rọc phách là cắt rời phần ghi tên người thi khỏi bài làm và đánh số, để người chấm không biết bài của ai. Đây là một cách chống gian lận đã có trong khoa cử xưa.
Thầy đồ thời xưa được trả công thế nào?
Thường không có học phí cố định bằng tiền. Gia đình học trò biếu thầy gạo, lễ vật vào dịp Tết, dịp giỗ, và giữ tình thầy trò suốt đời.