NhaSuHoc.comPodcast lịch sử kể cho người thường
Chữ viết và khoa cử

Chữ Quốc ngữ ra đời thế nào và phổ biến ra sao

Chữ Quốc ngữ được các giáo sĩ phương Tây cùng người Việt cộng tác xây dựng trong thế kỷ mười bảy để ghi tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes in ở Roma năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt là dấu mốc quan trọng, nhưng không phải phát minh của một người.

Học sinh tiểu học tập viết chữ trong vở ô li, nhìn nghiêng

Chữ Quốc ngữ được hình thành trong thế kỷ mười bảy, khi các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, cùng với những người Việt giúp họ, tìm cách ghi tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Cuốn từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes in ở Roma năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt là một dấu mốc lớn, nhưng chữ Quốc ngữ là công sức của nhiều người, không phải của riêng ai.

Chào bạn, đây là Nhà Sử Học. Chữ Quốc ngữ là thứ chữ bạn đang nghe mình đọc lên đây, và câu chuyện về nó có nhiều chỗ thường bị kể quá đơn giản. Tập này mình đi từ lúc nó ra đời trong những cuốn sổ tay của giáo sĩ tới lúc nó trở thành chữ viết của cả một dân tộc.

Vì sao các giáo sĩ cần một thứ chữ mới?

Đầu thế kỷ mười bảy, các giáo sĩ Dòng Tên từ châu Âu đến Đàng Trong, rồi Đàng Ngoài, để truyền đạo. Họ phải học tiếng Việt để giảng, và một thứ tiếng có thanh điệu là thử thách rất lớn với người nói các thứ tiếng châu Âu.

Chữ Hán và chữ Nôm quá khó để học nhanh. Vì thế, họ làm việc mà các giáo sĩ đã làm ở nhiều nơi khác: dùng chữ cái Latinh để ghi âm tiếng địa phương, trước hết cho chính mình học, sau đó để soạn sách đạo.

Việc ghi âm ấy ban đầu rất lộn xộn. Mỗi người ghi theo tai mình, theo thói quen chính tả tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý hay tiếng Pháp. Có những dấu vết của chính tả tiếng Bồ Đào Nha vẫn còn trong chữ Quốc ngữ hôm nay, ví dụ cách viết nh.

Và rất quan trọng: họ không làm một mình. Những người Việt giúp việc, những thầy giảng người Việt đã góp phần lớn trong việc nghe, sửa, giải thích tiếng nói, dù tên của họ hầu như không được ghi lại.

Những người đặt nền móng

Các nhà nghiên cứu thường nhắc tới một số giáo sĩ có đóng góp sớm như Francisco de Pina, người được coi là thông thạo tiếng Việt sớm nhất trong nhóm, và Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, những người đã soạn các từ điển nhỏ mà nay không còn bản.

Alexandre de Rhodes đến sau họ, học tiếng Việt, và may mắn hơn là có công trình được in ra. Năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt, ở Roma, ông cho in cuốn từ điển Việt Bồ La, tức từ điển tiếng Việt với nghĩa tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh, cùng một cuốn sách giáo lý song ngữ.

Vì là công trình in sớm nhất còn lại có hệ thống, cuốn từ điển ấy trở thành tài liệu gốc quan trọng nhất về chữ Quốc ngữ buổi đầu, và cũng là nguồn quý để biết tiếng Việt thế kỷ mười bảy được nói ra sao.

Cho nên nói Alexandre de Rhodes là người có công lớn thì đúng, còn nói ông một mình sáng tạo ra chữ Quốc ngữ thì không đúng với những gì giới nghiên cứu biết.

Chữ Quốc ngữ thế kỷ mười bảy trông khác bây giờ ra sao?

Nếu đọc một trang chữ Quốc ngữ thế kỷ mười bảy, bạn sẽ nhận ra phần lớn, nhưng thấy nhiều chỗ lạ. Có những tổ hợp phụ âm mà nay không còn, phản ánh cách phát âm của tiếng Việt thời đó, hoặc cách tai người châu Âu nghe tiếng Việt.

Cách đặt dấu thanh cũng chưa ổn định. Một số chữ viết liền bằng gạch nối giữa các âm tiết của một từ, điều mà chính tả hiện nay không dùng.

Từ thế kỷ mười bảy tới thế kỷ mười chín, chữ Quốc ngữ tiếp tục được chỉnh sửa, chủ yếu trong cộng đồng Công giáo, qua các từ điển và sách đạo mới. Chính tả dần gọn lại và gần với chữ ta dùng hôm nay.

Cho nên chữ Quốc ngữ không ra đời một lần rồi đứng yên. Nó được mài giũa qua gần ba thế kỷ.

Từ chữ của nhà đạo thành chữ của mọi người

Trong một thời gian dài, chữ Quốc ngữ chủ yếu được dùng trong cộng đồng Công giáo. Giới nho sĩ vẫn học chữ Hán, triều đình vẫn dùng chữ Hán.

Sang nửa sau thế kỷ mười chín, ở Nam Kỳ, chữ Quốc ngữ bắt đầu được dùng rộng hơn trong hành chính và báo chí. Năm một nghìn tám trăm sáu mươi lăm, tờ Gia Định báo ra đời, được coi là tờ báo đầu tiên in bằng chữ Quốc ngữ.

Đầu thế kỷ hai mươi, nhiều trí thức yêu nước nhận ra chữ Quốc ngữ là công cụ nhanh nhất để đưa chữ tới đông đảo người dân. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội đã cổ động học chữ Quốc ngữ. Về sau, các phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ tiếp tục mở lớp dạy chữ cho người lớn.

Khi khoa cử Nho học chấm dứt, cùng với báo chí, văn học mới và trường học mới, chữ Quốc ngữ nhanh chóng trở thành chữ viết chung của người Việt.

Nhìn lại: được gì và mất gì

Ưu điểm lớn của chữ Quốc ngữ là dễ học. Một người có thể biết đọc biết viết trong vài tháng, điều gần như không thể với chữ Hán, chữ Nôm. Nhờ vậy, việc xoá mù chữ trên quy mô lớn mới có thể thực hiện.

Cái giá phải trả là khoảng cách với di sản chữ viết cũ. Phần lớn người Việt hôm nay không đọc được hoành phi ở đình làng mình, không đọc được gia phả họ mình. Muốn tiếp cận quá khứ, phải qua bản dịch.

Cũng có cái giá về nghĩa. Tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán, viết bằng chữ Latinh thì nhiều từ đồng âm trông giống hệt nhau, người đọc phải dựa vào ngữ cảnh.

Nhìn như vậy, câu chuyện chữ Quốc ngữ không phải chuyện thắng thua giữa các thứ chữ, mà là một lựa chọn lịch sử với cả được lẫn mất. Hiểu cả hai mặt giúp mình quý chữ đang dùng và thương những thứ chữ đã lùi lại phía sau.

Câu hỏi thường gặp

Ai là người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ?

Chữ Quốc ngữ là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây và những người Việt cộng tác với họ trong thế kỷ mười bảy. Alexandre de Rhodes có công lớn vì cuốn từ điển của ông được in ra, nhưng không phải người duy nhất.

Từ điển Việt Bồ La là gì?

Đây là cuốn từ điển tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh do Alexandre de Rhodes cho in ở Roma năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt. Nó là tài liệu in sớm và có hệ thống nhất còn lại về chữ Quốc ngữ buổi đầu.

Tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên là tờ nào?

Gia Định báo, ra đời năm một nghìn tám trăm sáu mươi lăm ở Nam Kỳ, được coi là tờ báo đầu tiên in bằng chữ Quốc ngữ.

Vì sao gọi là chữ Quốc ngữ?

Quốc ngữ nghĩa là tiếng nói của nước mình. Tên gọi nhấn mạnh đây là chữ ghi trực tiếp tiếng Việt, khác với chữ Hán vốn ghi tiếng Hán.

Chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến từ khi nào?

Chữ Quốc ngữ lan rộng dần từ nửa sau thế kỷ mười chín ở Nam Kỳ, rồi phổ biến mạnh trong nửa đầu thế kỷ hai mươi nhờ báo chí, trường học mới, các phong trào cổ động học chữ và việc bãi bỏ khoa cử Nho học.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183